Theo một truyền thuyết về nguồn gốc chữ Hán tại Trung Quốc, Hoàng Đế là người sáng tạo ra chữ Hán từ khoảng 4 - 5000 năm trước. Tuy nhiên, ngày nay không còn ai tin rằng đây là nhân vật có thật trong lịch sử nữa.
Ngay đến cả thuyết Thương Hiệt cho chữ mà các học giả thời kỳ Chiến Quốc đưa ra cũng không còn đủ thuyết phục vì chả ai biết Thương Hiệt là ở đời nào. Cho đến những năm gần đây, người ta phát hiện được ở An Dương (Hà Nam) xuất hiện nhiều mu rùa, xương loài vật và cả đồ đồng có khắc chữ trên đó. Các nhà khảo cổ phỏng đoán rằng đây là chữ viết Trung Hoa ra đời muộn nhất vào thời kỳ nhà Thương (khoảng 1800 trước công nguyên).
Tương tự như một số quốc gia như Ai Cập và các nền văn minh thượng cổ khác, chữ Hán thời kỳ đâu là dạng chữ biểu ý (nét vẽ phác họa vật mà con người muốn nói). Phải cho đến giai đoạn hai, chữ Hán đã có thêm nhiều cách tạo mới như hội ý, giả tá, chuyến chú,...
Tóm tắt, chữ Hán vẫn giữ nguyên tính chất tượng hình mà không thành tượng thanh mặc dù có áp dụng phép hài thanh.
Khi con người dựa vào khả năng quan sát các đồ vật xung quanh và phác họa lại thành chữ tượng hình, chữ mang ý nghĩa. Hán tự đã trải qua cả một giai đoạn phát triển rực rỡ.
Cho đến hiện tại, khi tìm hiểu về nguồn gốc chữ Hán, người ta chứng minh rằng, chữ Hán cổ nhất là chữ Giáp Cốt xuất hiện vào thời nhà Ân vào khoảng năm 1600 - 1020 Trước Công Nguyên. Loại chữ viết này được khắc trên các mảnh xương thú vật có hình dạng rất gần với những gì mà con người quan sát được.
Các thời kỳ phát triển của chữ Giáp cốt:
Nhà Chu (1021 - 256 TCN) xuất hiện chữ Kim Văn, là chữ viết trên các chuông bằng đồng và kim loại.
Chiến Quốc (403 - 221 TCN) và nhà Tần (221 - 206 TCN) xuất hiện chữ Triện (Đại Triện và Tiểu Triện) và có chữ Lệ (Lệ Thư).
Nhà Hán (206 TCN - 220 SCN): Xuất hiện chữ Khải (Khải Thư).
Ngày nay, tại Trung Quốc, chữ Hán giản thể được sử dụng thay thế cho hệ thống chữ phồn thể. Sau cuộc cải cách chữ viết vào hồi tháng 10 năm 1954 đã đơn giản hóa chữ viết để quần chúng nhân dân có thể dễ dàng học viết và xóa mù chữ, thống nhất văn tự trên các khu vực vốn dĩ có nhiều khác biệt bởi điều kiện địa lý và lịch sử.
Chữ Hán hay còn có tên gọi khác là Hán tự 汉字, Hán Văn 汉文, là một dạng chữ biểu ý của Trung Quốc. Nguồn gốc chữ Hán ở bản địa Trung Quốc, sau đó du nhập vào một số nước và vùng lân cận như Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam tạo thành khu vực gọi là vùng văn hóa chữ Hán hay vùng văn hóa Đông Á.
Tại những quốc gia này, chữ Hán được vay mượn để hình thành nên chữ viết cho ngôn ngữ của nhân dân bản địa từng nước. Bàn về tên gọi chữ Hán, tại Trung Quốc, trước nhà Tần, chữ Hán được gọi là “Văn - 文” hoặc “danh - 名”. Cho đến khi tên gọi Hán Tự được sử dụng phổ biến thì người ta thường hay dùng Văn Tự 文字.
Theo cuốn sách nguồn gốc chữ Hán PDF có tên là Thuyết văn giải tự do Hứa Thuận biên soạn vào thời Đông Hán, giữa “Văn - 文” và “Tự - 字” có sự phân công ý nghĩa chứ không hoàn toàn đồng nghĩa. Trong đó, chữ “Văn 文” là chữ tượng hình và chữ chỉ sự, còn chữ “Tự 字” là chữ hình thanh và hội ý. Những tên gọi của chữ Hán kể trên đều mang chung ý nghĩa là “chữ, chữ viết”.
Trong đó, tên gọi “Hán tự - 汉字” xuất hiện sớm nhất trong Kim Sử. Đây là bộ sách sử được biên soạn vào thời nhà Nguyên. Tuy nhiên, vào thời kỳ đó, chữ Hán tự không được sử dụng phổ biến. Phải cho đến thời cận đại (1840 - 1949), tên gọi Hán tự mới dần dần được sử dụng rộng rãi cho đến ngày nay.
Khi tìm hiểu về nguồn gốc chữ Hán, bạn sẽ thấy rằng chữ viết này có sức ảnh hưởng rất lớn không chỉ đất nước Trung Quốc mà còn cả các quốc gia và vùng lân cận, trong đó có Việt Nam, cụ thể:
Vào đầu công nguyên từ thế kỷ X, đất nước Việt Nam phải chịu sự đô hộ của phong kiến Trung Hoa. Theo đó, Hán tự được giới quan lại cai trị áp đặt sử dụng. Theo một nghiên cứu của Đào Duy Anh, nước Việt Nam bắt đầu sử dụng Hán tự khi viên Thái thú Sĩ Nhiếp (137 - 226) đã dạy dân Việt thi thử. Kể từ đây, mất khoảng thời gian 1000 năm, hầu hết các bài văn khắc trên tấm bia đều sử dụng chữ Hán.
Đến thời kỳ nước Nam Việt được Triệu Đà thành lập vào thế kỷ III TCN (thời gian nhà Tần thống nhất chữ viết). Phải đến hơn 1 thế kỷ sau, Lưu Bang bị nhà Tần lật đổ, nhà Hán mới có thể thôn tính được đất nước Nam Việt (khoảng năm 111 TCN). Một số khảo cổ tìm thấy các cổ vật trên lăng mộ của Hán Văn Đế, chữ viết của Nam Việt khá hoàn chỉnh.
Trải qua thời kỳ Bắc thuộc, với chính sách Hán hóa của nhà Hán, Hán tự được giảng dạy phổ biến tại Việt và người Việt bắt buộc phải chấp nhận ngôn ngữ đó song song với tiếng Việt. Mặc dù người Việt Nam tiếp thu tiếng Hán nhưng cũng đã Việt hóa được nhiều từ thành Hán Việt. Kể từ đây, rất nhiều từ ngữ Hán Việt được đưa vào hệ thống từ vựng trong tiếng Việt.
Đến năm 938, sau chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền, người Việt độc lập và không còn lệ thuộc vào Trung Quốc nữa. Mặc dù vậy, ngôn ngữ sử dụng vẫn còn mang đậm âm hưởng của tiếng Hán. Do nhu cầu phát triển, người Việt đã sử dụng Hán tự đã tạo ra hệ thống chữ viết riêng, tức là chữ Nôm.
Có thể bạn chưa biết, tiếng Nhật cổ đại vốn không có chữ viết nên khi chữ Hán xuất hiện tại quốc gia này, người dân Nhật Bản đã dùng chữ Hán để viết tiếng nói của họ. Dạng chữ đầu tiên do chính người Nhật sáng tạo nên dựa trên từ chữ Hán để viết tiếng Nhật đó là Man - yogana. Hệ thống chữ viết này khá phức tạp nên về sau đã được đơn giản hóa thành Hiragana và Katakana. Trải qua nhiều lần chỉnh lý, hai loại chữ viết này đã hoàn thiện và trở thành chữ viết ngày nay ở Nhật Bản.
Tiếng Nhật được viết bằng 4 loại ký tự:
Nếu bạn muốn hiểu sâu hơn về nguồn gốc chữ Hán thì có thể tìm đọc bộ sách ý nghĩa nguồn gốc chữ Hán PDF - Diễn tiến văn hóa Nguồn gốc chữ Hán (3 cuốn).